Bỏ qua điều hướng, tới nội dung chính

Nội dung phục vụ đào tạo và tham khảo chuyên môn. Không thay thế đánh giá người bệnh, hội chẩn đa chuyên khoa hoặc guideline đầy đủ. Đọc tuyên bố miễn trừ.

Tăng áp phổi liên quan tim bẩm sinh

Pulmonary hypertension associated with congenital heart disease

Từ luồng thông trái–phải tới bệnh mạch máu phổi cố định: cơ chế, phân nhóm lâm sàng, vai trò của thông tim trong quyết định đóng luồng thông, sinh lý Eisenmenger và những điều còn chưa có bằng chứng.

Do AI soạn — chưa thẩm địnhNâng cao ~30 phútNhũ nhiTrẻ emThanh thiếu niênNgười lớn
Đối tượng:
Bác sĩ tim mạch nhi, Bác sĩ tim mạch người lớn, Bác sĩ hồi sức, Học viên chuyên khoa
Rà soát lần cuối:
27/07/2026
Bằng chứng chốt đến:
27/07/2026
Cần thẩm định bởi:
Bác sĩ tim mạch nhi, Bác sĩ tim bẩm sinh người lớn

Mục tiêu học tập

  • Mô tả diễn tiến từ tăng lưu lượng máu phổi tới bệnh mạch máu phổi tắc nghẽn.
  • Phân biệt tăng áp phổi trước mao mạch và sau mao mạch trong bối cảnh tim bẩm sinh.
  • Nêu bốn nhóm lâm sàng của tăng áp phổi liên quan tim bẩm sinh.
  • Giải thích vì sao đóng luồng thông ở bệnh nhân đã có bệnh mạch máu phổi tiến triển có thể gây hại.
  • Mô tả sinh lý Eisenmenger và các nguyên tắc chăm sóc đặc thù.

Nên học trước: Qp/Qs, sức cản mạch máu phổi và sức cản hệ thống · Áp lực thất phải tăng không đồng nghĩa với tăng áp động mạch phổi

Diễn tiến tự nhiên của luồng thông trái–phải lớn

  1. Sau sinh, PVR giảm dần → luồng thông trái–phải tăng dần → lưu lượng máu phổi tăng. Áp lực động mạch phổi tăng chủ yếu do lưu lượng.
  2. Giường mạch phổi chịu đồng thời tăng lưu lượng và (với lỗ thông không hạn chế) tăng áp lực → phì đại lớp cơ trơn thành mạch, dày lớp nội mạc.
  3. Sức cản bắt đầu tăng → luồng thông giảm dần → triệu chứng suy tim giảm đi. Đây là giai đoạn nguy hiểm vì lâm sàng trông có vẻ cải thiện.
  4. Tổn thương thành mạch tiến triển tới mức không hồi phục → luồng thông đảo chiều thành phải–trái → hội chứng Eisenmenger.

Phân nhóm lâm sàng

Không bỏ sót nguyên nhân sau mao mạch

Trong tim bẩm sinh, áp lực động mạch phổi cao có thể hoàn toàn do áp lực nhĩ trái cao. Các nguyên nhân phải loại trừ trước khi kết luận "bệnh mạch máu phổi": hẹp van hai lá bẩm sinh, tim ba buồng nhĩ, hẹp tĩnh mạch phổi, hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường có tắc nghẽn, rối loạn chức năng tâm trương thất trái, và tắc nghẽn đường ra thất trái. Điều trị của nhóm này là giải quyết tắc nghẽn, không phải dùng thuốc giãn mạch phổi.

Quyết định đóng luồng thông

Sinh lý Eisenmenger

  • Luồng thông phải–trái duy trì cung lượng tim hệ thống khi thất phải không thể đẩy đủ máu qua giường mạch phổi. Nó là cơ chế bù trừ, không phải khiếm khuyết cần đóng.
  • Tăng hồng cầu thứ phát là đáp ứng sinh lý với thiếu oxy mạn. Trích máu thường quy để "hạ hematocrit" có thể gây thiếu sắt và làm nặng triệu chứng.
  • Thiếu sắt là vấn đề thường bị bỏ sót: hồng cầu thiếu sắt kém biến dạng, làm tăng độ nhớt hiệu dụng và tăng nguy cơ biến cố mạch não.
  • Bất kỳ tình huống nào làm giảm sức cản hệ thống (giãn mạch, mất nước, gây mê, sốt, giãn mạch ngoại vi do nóng) đều làm tăng luồng thông phải–trái và làm tím nặng hơn.
  • Nguy cơ cao khi gây mê, khi phẫu thuật ngoài tim và khi mang thai — cần chăm sóc tại trung tâm chuyên khoa.

Bài liên quan